Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Trống đồng Ngọc Lũ

Giới thiệu chung Di tích lịch sử, danh thắng  
Trống đồng Ngọc Lũ
Trống đồng Ngọc Lũ
Trống Ngọc Lũ được phát hiện vào khoảng năm 1893 - 1894, do các ông Nguyễn Văn Y, Nguyễn Văn Túc và một số người khác đắp đê ở xã Như Trác huyện Nam Xang (Lý Nhân) hữu ngạn sông Hồng.


Khi đào ở bãi cát bồi thì thấy ở dưới độ sâu 2 mét lộ ra một vật bằng đồng rất lớn, các ông vội lấp đất rồi đến đêm mới kéo ra đào thì thấy một trống đồng, các ông khiêng về cúng vào đình làng Ngọc Lũ. Sau 7, 8 năm một họa sĩ người Pháp đến vẽ tại đình thấy trống liền báo cho Công sứ Hà Nam. Nhân có cuộc đấu xảo ngày 15 - 11 - 1902 ở Hà Nội, trống được trường Viễn đông Bác Cổ mua lại với giá 550 đồng. Từ năm 1958 đến nay trống đồng Ngọc Lũ luôn được lưu giữ, bảo quản và giới thiệu tại hệ thống trưng bày chính của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (nay là Bảo tàng Lịch sử Quốc gia).
Trống đồng Ngọc Lũ được xếp vào loại H1 - Heger (theo sự phân loại của học giả F.Héger người Áo vào năm 1902). Trống có patin xanh ngả xám. Đây là chiếc trống có kích thước lớn, hình dáng cân đối và đặc biệt có hoa văn trang trí đẹp nhất trong số những trống Đông Sơn được biết. Trống có đường kính mặt: 79,3cm; đường kính chân: 8cm; Cao: 63cm. Trọng lượng của trống: 86kg. Trống có cấu trúc gồm các bộ phận: Mặt trống, tang trống, thân trống và chân trống.
Mặt trống chính giữa đúc nổi ngôi sao 14 cánh bao quanh một mặt tròn nổi. Đây chính là núm để đánh trống. Xen giữa các cánh sao là những họa tiết hình lông công. Bao quanh ngôi sao là 16 vành hoa văn: chấm nhỏ, vòng tròn chấm giữa có tiếp tuyến, những hàng chữ ∫ gẫy khúc nối tiếp, văn răng cưa, hình người hóa trang lông chim nhảy múa, người giã gạo chày đôi, người đánh trống, nhà sàn mái cong, hươu đang đi cùng chim mỏ ngắn bay và chim mỏ dài đứng.
Tang trống chính là chiếc hộp cộng hưởng khuyếch đại âm thanh.
Phần trên có 6 vành hoa văn hình học: những đường chấm nhỏ thẳng hàng, văn răng cưa, hoa văn vòng tròn đồng tâm chấm giữa nối với nhau bằng những tiếp tuyến song song.
Phần dưới: là 6 chiếc thuyền chuyển động từ trái sang phải, chở chiến binh tay cầm vũ khí và tù binh, xen giữa là những hình chim cò ngậm cá, chó săn được thể hiện theo lối cách điệu.
Gắn giữa tang và thân trống là hai đôi quai kép đúc nổi hoa văn bông lúa, đối xứng nhau.
Thân trống hình trụ đứng, là bộ phận nắn âm thanh. Phần giữa của thân có những hoa văn hình học chạy song song cắt nhau tạo thành 6 ô hình chữ nhật. Trong ô là các võ sĩ đầu đội mũ lông chim, tay cầm vũ khí vừa đi vừa múa. Phần dưới của thân là ba vành hoa văn hình học, giữa là vành văn vòng tròn chấm giữa có tiếp tuyến. Hai bên là hai đường chấm nhỏ. Ngoài cùng là hai đường chỉ trơn.
Chân trống nở choãi hình nón cụt là cửa mở để âm thanh của trống thoát ra và tỏa rộng nhanh chóng, không trang trí.
Trống đồng Ngọc Lũ thuộc sưu tập trống đồng Đông Sơn là đại diện loại hình hiện vật tiêu biểu nhất của nền văn hóa Đông Sơn nổi tiếng trong khu vực Đông Nam Á. Trong hàng ngàn chiếc trống được phát hiện từ trước đến nay (không hề có chiếc nào giống nhau hoàn toàn), trống đồng Ngọc Lũ vẫn là chiếc trống có kiểu dáng và kích thước hài hòa nhất, đề tài trang trí đẹp và phong phú nhất. Hoa văn trên trống đồng Ngọc Lũ phản ánh nhiều nét đặc trưng văn hóa của cư dân Lạc Việt.
Trống đồng giữ một vị trí vô cùng quan trọng trong sinh hoạt đa dạng của cư dân xã hội Đông Sơn. Về cơ bản thì trống là một nhạc khí dùng trong những lễ tiết lớn của dân tộc. Trống đồng còn được dùng trong lễ mai táng chôn theo người chết, trong lễ hội cầu mùa. Trống đồng còn là biểu tượng quyền lực của tầng lớp thống trị thời kỳ Hùng Vương dựng nước.
Trên trống thể hiện vô vàn những hình trang trí phong phú, diễn tả nhiều trạng thái sinh hoạt khác nhau của xã hội Đông Sơn. Khi nghiên cúu tìm hiểu đầy đủ và có hệ thống những hình hoa văn độc đáo ấy, ta phần nào hiểu được đời sống vật chất và tinh thần của tổ chức xã hội cư dân thời đại dựng nước.
Trống đồng là một nhân chứng lịch sử nói lên tài năng sáng tạo, kỹ thuật sáng tạo đồ đồng thau tuyệt vời của chủ nhân đã sáng tạo ra chúng. Điều đó được chứng minh bằng việc trống đồng Ngọc Lũ đã được đúc thể nghiệm rất nhiều lần nhưng vẫn không có được sự thành công thực sự như người xưa. Có biết bao điều bí ẩn về sự kết hợp pha chế của nguyên liệu khi đúc trống cho sản phẩm có được độ âm vang khi đánh, sự kết hợp hài hòa giữa tạo dáng và hoa văn trang trí trên trống.
Chính vì có một vị trí quan trọng nổi bật như thế nên trống đồng Ngọc Lũ luôn được sự chú ý quan tâm, nghiên cứu của các thế hệ học giả trong nước và quốc tế.
Tóm lại, với những ý nghĩa nhiều mặt của trống đồng Ngọc Lũ, là di vật độc đáo và tiêu biểu của văn hóa Đông Sơn, là biểu tượng của nền Văn minh Việt Cổ nên trống đồng Ngọc Lũ xứng đáng được vinh danh là Bảo vật Quốc gia.